TIẾNG MA HÚ TRÊN ĐỒI YÊN NGỰA – Truyện ngắn Lê Đình Danh




Hơn ba mươi năm tôi mới quay về. Nơi ấy có một kỷ niệm mà dù đi đâu về đâu, dù thời gian có xuôi hay ngược dòng; tôi cũng sẽ không bao giờ quên được. Đó là làng Yên Ngựa…
Tôi cho xe chạy chầm chậm vượt qua đồi Yên Ngựa. Con đường qua đồi nằm giữa trảng cỏ tranh. Ngọn gió Bấc rít lên từng hồi. Đám cỏ tranh cuồn cuộn trong gió như từng cơn sóng màu xanh lơ nối nhau đuổi đến tận bìa rừng. Đồi Yên ngựa vẫn như ngày nào. Có khác chăng là hai mỏm đồi hai bên trảng cỏ tranh, xưa là rừng tự nhiên, nay đã được thay bằng rừng Bạch Đàn thẳng đều tăm tắp. Lá cây Bạch Đàn cũng màu xanh lơ, ở xa nhìn lại nó tiếp với màu của trảng cỏ tranh, không nhìn ra ranh giới. Chỉ có cây cổ thụ to đến hai người ôm không xuể, nổi bật lên với vòm cây rậm rạp lá màu xanh thăm thẳm. Nó đứng cách con đường xe tôi đang đi khoảng vài trăm mét. Cây Cầy Ma biết hú! Nó vẫn như ngày nào. Ngày tôi bỏ làng ra đi, nó đã thôi không còn hú nữa. Không biết chỗ bùa mà ngày xưa thầy pháp Mùa trấn ếm đã mục chưa? Nó còn nín thinh hay đã hú trở lại?
Ngôi làng Yên Ngựa đã hiện ra khi xe tôi lên đến đầu dốc. Ngôi làng nhỏ nằm dưới chân đồi, dọc theo dòng suối Bụt. Phía xa xa, hòn núi Ông hùng vĩ vẫn ẩn hiện trong làn mờ sương khói. Màu da xanh xẫm của hòn núi Ông đã rách, loang lổ lộ ra những mảng thịt màu đỏ ối. Dòng suối Bụt bị sa bồi thủy phá, cát trắng xóa hai bên rộng đến vài trăm mét. Dòng nước cạn trơ khó khăn len lỏi leo qua những lổn ngổn đá cuội. Không còn nữa những vũng nước sâu; cá Thác Lác, cá Lúi, cá Diếc, cá Ngựa, cá Chép lượn lờ… vảy của chúng phản chiếu cả ánh nắng mặt trời lấp lóa.
Một thoáng ngậm ngùi! Tôi hạ cửa kính và thả chân ga cho xe tự do chầm chậm xuôi dốc đến chòi gác đầu làng. Chắc lâu lắm mới có chiếc xe hơi sang trọng chạy vào ngôi làng nằm lọt thỏm trong lũng núi này, nên những thanh niên thiếu nữ vác cuốc đi làm đồng hiếu kỳ nhìn theo xe của tôi. Tôi mỉm cười với họ. Họ hơi ngạc nhiên, nhưng cũng đáp lại băng nụ cười thân thiện. Mặc dù chẳng ai nhận ra ai. Ngày tôi bỏ làng ra đi, đám thanh thiếu niên này chắc hẳn chưa ra đời. Tôi dừng xe và thò đầu ra:
- Mấy cháu ơi, cho chú hỏi.
Một cô thiếu nữ dè dặt:
- Chú hỏi gì à?
Nhìn đôi mắt to đen, miệng hơi rộng và vành môi hơi cong của cô thiếu nữ; kinh nghiệm mách bảo tôi: đây là người thật thà và ưa chuyện. Người như thế, nếu biết chuyện gì họ khai ra tuốt tuồn tuột. Nghĩ vậy, chỉ tay lên cây Cầy đứng sững sững giữa trảng cỏ tranh trên đồi Yên Ngựa, tôi mạnh dạn hỏi:
- Cây Cầy Ma kia có còn hú nữa không hả cháu?
Một thoáng kinh ngạc và tò mò, cô hỏi lại:
- Sao chú biết cây Cầy Ma biết hú?
- Hồi ấy tôi cũng ở đây mà!
Cô gái có vẻ ưa chuyện liền liếng thoắng:
- Cây Cầy Ma đã hết hú lâu lắm rồi chú à. Nghe nói hồi ấy thầy pháp Mùa lên trấn ếm, nên nó mới chịu im không hú nữa.
Đám đông thanh niên thiếu nữ chắc cũng hiếu kỳ chẳng kém gì cô gái, nên cùng lên tiếng tán đồng:
- Phải đó! Nếu không có thầy pháp Mùa chắc con ma trên cây Cầy đến nay vẫn còn hú đó. Bọn tôi nghe người lớn nói vậy.
Đến nay, sau ba mươi năm, lớp trẻ này vẫn còn nghe chuyện cây Cầy có con ma thường hú… hú… ú… ú… từng tiếng dài rùng rợn vào những khi gió lớn. Sau nhờ có thầy pháp Mùa… Tôi vội hỏi:
- Thầy pháp Mùa bây giờ ở đâu, mấy cháu có biết không?
- Thầy pháp Mùa trước là bộ đội, sau theo đơn vị đi đâu không rõ chú à.
Tôi vẫn nhìn về phía  đồi Yên Ngựa, giọng xa xăm:
- Phải rồi, nhờ có thầy pháp Mùa lên đó trấn ếm nên cây Cầy Ma mới thôi không hú nữa. Ngày thầy pháp Mùa lên ấy trấn ếm tôi có đi theo.
Cắt lời tôi, cả bọn nhao nhao:
- Thế à! Thật vậy sao chú? Chú kể cho bọn cháu nghe với.
Tôi xuống xe bước vào trạm gác đầu làng. Không ai bảo ai, đám thanh thiếu niên cũng vào theo; họ ngồi hai bên và sau lưng tôi trên sạp tre của trạm gác. Tôi nhìn lên đồi Yên Ngựa và kể:
- Mấy cháu à! Ngày ấy chú cũng ở tuổi như mấy cháu bây giờ. Trước đó, làng Yên Ngựa này hãy còn là một vùng rừng rậm, là chiến khu của du kích đánh Mỹ. Chiến khu Bạch Mã. Hai năm sau ngày đất nước thống nhất, vào năm một ngàn chín trăm bảy bảy, nhà nước hỗ trợ dân thành phố đi vùng kinh tế mới để tăng gia sản xuất nông nghiệp. Và một vùng của chiến khu Bạch Mã được khoảng trăm hộ dân phát quang lập thành làng Yên Ngựa.
- Sao lại đặt tên làng Yên Ngựa hả chú?- Tôi vừa dừng lại lấy hơi, có cậu thanh niên xen vào hỏi ngay. Tôi chưa kịp trả lời người khác lại hỏi thêm:
- Có phải do chiến khu Bạch Mã nên mới đặt tên làng Yên Ngựa không hả chú?
- Mấy cháu hãy nhìn lên hai mỏm đồi kia xem. Giữa hai mỏm đồi ấy là trảng cỏ tranh trũng xuống như cái yên ngựa nên mới có tên đồi Yên Ngựa. Sau lập làng dưới chân đồi nên dân làng mới đặt tên làng Yên Ngựa. Giữa trảng cỏ tranh trên Yên Ngựa mọc trơ trọi một cây Cầy to đến hai người ôm không xuể. Đó là cây Cầy Ma biết hú. Hồi ấy nhà nước ta còn chủ trương kinh tế quốc doanh, là nhà nước mới được phân phối hàng hóa cho dân để tránh tình trạng người bóc lột người. Nông dân thì hợp tác xã làm chung ăn chung, để tránh tình trạng có kẻ giàu người nghèo. Giàu thì ai cũng giàu. Nghèo thì nghèo hết. Thế mới công bằng bình đẳng. Khốn một nỗi là hồi ấy ai cũng nghèo cả…
- Bây giờ không còn làm hợp tác nữa đâu chú. Đã chia ruộng đất cho từng hộ gia đình tự quản nên đã khá hơn rồi chú à!
- Chú biết rồi! Sở dĩ chú nói đến chuyện hồi ấy ai cũng nghèo cả vì có liên quan đến cây Cầy Ma biết hú. Hồi ấy làng Yên Ngựa mình nghèo đến nỗi cả làng mà không có một cái máy xay xát gạo. Ai cũng phải có trong nhà một cái cối giã gạo, để khi hợp tác xã chia lúa thì về tự giã gạo mà ăn. Cây Cầy là một loại cây mọc rất nhiều ở vùng này và đẽo làm cối giã gạo rất tốt. Thế nhưng cây Cầy mọc trơ trọi giữa trảng cỏ tranh trên đồi Yên Ngựa kia thì không ai dám chặt. Cây Cầy ấy nổi tiếng có ma!
- Lúc đó nó đã hú chưa hả chú?
- Lúc đó nó chưa hú!
- Chưa hú sao lại nổi tiếng có ma hả chú?
- Vì vào những lúc mưa giông, ngày cũng như đêm; mỗi lần sét đánh luôn luôn đánh vào cây Cầy Ma. Yên Ngựa trũng xuống, hai mõm đồi lồi cao lên, sao sét không đánh vào  cây trên hai mõm đồi mà cứ nhè cây Cầy chỗ trũng mà đánh. Vì cây Cầy đó có ma. Người lớn tuổi bảo nơi nào có ma thì trời đánh vào nơi đó. Cho nên, khi ấy cây Cầy Ma chưa hú, nhưng nó đã nổi tiếng là có ma trú ẩn.
Cô thiếu nữ có vành môi hơi cong ngắt lời tôi hỏi:
- Vậy nó hú lúc nào hở chú?
Để hồi ức không bị gián đoạn tôi cứ nhìn lên đồi Yên Ngựa say sưa nói tiếp:
- Đó là vào một đêm mưa to gió lớn. Sáng hôm sau ngay chỗ trạm gác này đây. Trạm gác mà chú cùng các cháu đang ngồi đây. Con mương hai bên đường sau một đêm mưa lớn xói lở ra, dân làng phát hiện xương đầu và xương tay chân người. Chính quyền xã liền cho người đến đào lên và công bố đó là 24 bộ xương của dân quân du kích xã vào chiến khu Bạch Mã bị sư đoàn Mãnh Hổ của Đại Hàn phục bắn chết rồi đào hố chôn tập thể.
- Đại Hàn là nước nào mà cháu chưa nghe hả chú?
- Đó là tiếng gọi tắt của nước Đại Hàn dân quốc là Hàn Quốc bây giờ đó. Lính Đại Hàn qua Việt Nam đi đánh thuê cho Mỹ. Ủa! Chú kể đến đâu rồi nhỉ?
- Đào hố chôn tập thể…
- Ừ! Thân nhân của 24 quân dân du kích đến nhận xác mời thầy tăng tới cúng rước vong hồn của người chết về nghĩa trang. Chính quyền xã làm lễ truy điệu tôn vinh 24 liệt sĩ nhưng không cho phép mời thầy tăng đến cúng rước vong hồn. Họ bảo là mê tín dị đoan, trái chủ trương chính sách của nhà nước. Điều kì lạ là đêm hôm sau mưa to gió lớn nổi lên. Dân làng nghe trong tiếng gió rít mưa gào xen lẫn từng tiếng hú… hú… hú… ú… ú dài rõ ràng, âm vang, thâm u, rùng rợn… mỗi khi mưa to gió lớn đều có tiếng hú như thế. Nó phát ra từ cây Cầy giữa trảng cỏ tranh trên đồi Yên Ngựa. Dân làng bảo nhau, do hồn người chết không được rước đi, nên đến trú trên cây Cầy. Từ đó làng Yên Ngựa này gọi nó là cây Cầy Ma. Điều kì lạ nữa là, một hôm nọ ông tập đoàn trưởng sản xuất nông nghiệp dắt theo mấy thanh niên đến chặt cây  Cầy Ma…
- Rồi sao nữa chú…
- Không ai biết là tình cờ ngẫu nhiên hay là có ma thật mà ông tập đoàn trưởng vừa giơ rìu lên bỗng ngã ngữa ra sùi bọt mép. Đưa đi bệnh viện bảo là tai biến mạch máu não. Có điều không phát bệnh vào lúc nào lại nhè lúc chặt cây Cầy Ma mà phát bệnh. Người ta càng đồn đại cây Cầy Ma thiêng lắm. Từ ấy về sau, không ai dám đụng đến nó nữa. Cứ những lần gió lớn là nó phát ra từng tiếng hú dài. Sau cơn gió là mưa giông đến, sấm chớp ầm ầm, sét rạch trời đánh xuống cây Cầy Ma đó.
- Eo ôi! Ghê quá! Vậy là có ma thật rồi. Rồi thầy pháp Mùa ếm thế nào mà nó lại hết hú và sét cũng hết đánh vào cây Cầy Ma vậy chú?
- Nè! Mà chú kể chuyện này có bị cho là truyền bá mê tín dị đoan không vậy?
- Trời! Chú ở đâu mà lạc hậu thế. Bây giờ ai muốn tin Phật tin Chúa tin thánh tin ma gì cũng được. Muốn tin gì thì tin không ai cấm đoán cả. Thậm chí, các nhà ngoại cảm nói chuyện được với hồn ma để đi tìm hài cốt liệt sĩ  kia mà.
  Rồi cô bé làm như mình là người dẫn dắt câu chuyện chứ không phải là tôi.- Thôi không nói chuyện ấy nữa. Chú kể tiếp chuyện thầy pháp Mùa ếm cây Cầy Ma đi chú.
- À! Thầy pháp Mùa hồi ấy là bộ đội của đơn vị tỉnh đội đến gần làng Yên Ngựa khai hoang để tăng gia sản xuất. Nhà chú ở gần doanh trại bộ đội nên chú thân với thầy pháp Mùa. Chú nói không tin chuyện ma quỷ, nhưng không biết vì sao cây Cầy Ma lại phát ra tiếng hú. Thầy pháp Mùa cười bảo: “Ngày mai theo anh đến đó, xem anh ếm bùa cho ma trên cây Cầy thôi không hú nữa”.
 Tôi vừa ngừng lại lấy hơi, sự tò mò của đám thanh thiếu niên có lẽ đã lên cao nên họ đồng thanh hỏi ngay:
- Rồi sao nữa chú?
- Từ ấy về sau cây Cầy Ma thôi không hú nữa và sét cũng không còn đánh vào nó. Đặc biệt là dân làng Yên Ngựa đã giảm phá rừng đáng kể.
- Ủa! Sao lại có liên quan gì đến việc giảm phá rừng?
- Vì thầy pháp Mùa về bảo dân làng rằng thấy đã ếm bùa cho ma nó thôi không hú nữa. Nhưng nếu phá rừng nhiều quá sẽ làm khô dòng suối Bụt. Mà Bụt không còn tất ma quỷ lộng. Nên thầy pháp Mùa khuyên nếu muốn ma trên cây Cầy không hú trở lại thì dân làng không được phá rừng. Cũng vừa may lúc ấy nhà nước ta chuyển đổi từ kinh tể quốc doanh sang kinh tể thị trường, xóa bỏ chế độ bao cấp, nên đời sống người dân khấm khá hơn. Có phải do đời sống khá hơn nên không phá rừng hay vì sợ khô dòng suối Bụt không trấn được ma mà không phá rừng? Chú cũng không biết nữa, mấy cháu à.
Chỉ tay lên những mảng thịt đỏ ối trên lưng hòn núi Ông, tôi hỏi:
- Nay đời sống ngày càng khá hơn, sao người ta còn phá rừng nên lở lưng hòn Ông kia, phải không mấy cháu?
- Ngày nay không phải do nghèo đói quá phải phá rừng đốn củi đổi gạo. Mà bọn lâm tặc phá rừng chặt gỗ quý làm giàu đó chú.
Tôi ngạc nhiên:
- Thế nhân viên kiểm lâm đâu mà để bọn lâm tặc lộng như ma vậy?
- Bọn lâm tặc này ghê lắm chú à! Chúng dữ hơn quỷ, dân làng có cản trở việc phá rừng của chúng là thế nào cũng bị cho một trận nên thân. Chúng còn thiêng hơn ma nữa. Mỗi lần các cơ quan chức năng liên ngành đi truy quét là chúng biết trước không xuất đầu lộ diện. Càng thiêng nữa là ra khỏi rừng chỉ có một con đường độc đạo, vậy mà xe chúng chở gỗ về xuôi lúc nào cũng trót lọt. Người ta bảo chúng bùa phép thế nào mà che được mắt các cơ quan chức năng. Có người lại bảo chắc nhờ bọn ma trên cây Cầy giúp lâm tặc để chúng phá rừng ở hòn núi Ông cho khô dòng suối Bụt. Bụt khô không trấn được ma, ma sẽ lộng hành hú trở lại chú à.
Trời càng về chiều, gió Bấc càng rít mạnh. Cô thiếu nữ lanh mồm có vẻ thích nghe chuyện ma hơn, cô giục:
- Thôi! Chú hãy kể tiếp xem thầy pháp Mùa trấn ếm cây Cầy Ma đó thế nào đi chú!
Trước đó tôi cũng định kể cho bọn trẻ nghe chuyện ngày xưa tôi theo thầy pháp Mùa đi ếm cây Cầy Ma: nhưng sau khi nghe chuyện bọn lâm tặc phá rừng mà không ai ngăn được, tôi đã đổi ý. Một dự định vừa lóe lên trong đầu, tôi nói ngay:
- Thôi, chú phải về kẻo trễ. Ngày mai chú lại đến kể cho mấy cháu nghe nhé.
Tôi quay xe lại vượt qua đồi, rời khỏi làng Yên Ngựa. Đến đầu dốc, ngang nơi cây Cầy Ma, tôi dừng lại, xuống xe. Đã bước vào mùa mưa, cỏ tranh thật tốt, cao lút đầu người. Chiều tàn đường vắng, không người qua lại. Không ai thấy tôi. Dân làng Yên Ngựa có nhìn lên cũng thể thấy được tôi và chiếc xe chìm trong trảng cỏ tranh. Tôi lặng lẽ ngắm cây Cầy. Vết thương trên thân cây ngày xưa thầy Mùa trấn ếm vẫn còn đó. Nó tròn nhưng nham nhở, to ngang vành nón lát. Trên xe tôi có thanh sắt dùng để vặn bu-lông bánh xe. Lấy nó ra, tôi bước đến gần cây Cầy. Nhón chân lên, tôi giơ thanh sắt đập mạnh vào vết thương trên thân cây. Chỗ bùa ngày xưa thầy Mùa trấn ếm sau ba mươi năm đã mục. Nó lọt thỏm vào chỗ bộng trong thân cây. Nơi ấy lộ ra một cái lỗ đen ngòm. Càng lúc gió Bấc càng mạnh. Một tiếng hú… hú… ú… ú… vang lên rùng rợn. Dù đã biết trước nhưng tôi vẫn dợn da gà. Và nhiều tiếng hú… hú… ú… ú… nữa tiếp tục nối nhau vang lên…
Tôi bước nhanh ra xe quay về thành phố. Tôi nghĩ, có khi cây Cầy Ma hú trở lại, bọn lâm tặc vì sợ khô dòng suối Bụt không trấn được yêu ma sẽ không phá rừng ở hòn núi Ông nữa chăng? Tôi sẽ không kể cho bọn trẻ nghe chuyện thầy pháp Mùa trấn ếm cây Cầy Ma, dù ký ức ngày ấy cứ hiện về trong tôi mồn một…
                                         *   *   *
Đứng ngắm một hồi, rồi lấy khúc cây to bằng bắp tay đánh mạnh vào thân cây Cầy phát ra tiếng thùng thùng như tiếng trống; anh bộ đội tên Mùa bảo tôi:
- Cây Cầy này bị mục bộng rỗng ở bên trong. Cái lỗ kia là vết thương do đạn pháo bắn trúng khoét sâu vào thân cây, lâu ngày lõi gỗ bên trong bị mục thành ra bộng rỗng. Trảng cỏ tranh này là yên ngựa trũng xuống, hai mỏm đồi cao ở hai bên chắn gió nên yên ngựa bị gió dồn rất mạnh. Gió mạnh thổi vào lỗ trên thân cây, lồng trong bộng cây mà phát ra tiếng hú. Em thấy chưa, ma cỏ cái gì?
Dù từ trước không tin là ma, nhưng nghe anh diễn giải khoa học như vậy tôi hết sức khâm phục. Nhưng còn có chỗ chưa rõ, tôi hỏi:
- Đạn pháo ở đâu mà bắn vào đây vậy anh?
- Trước ngày đất nước thống nhất, quân Mỹ bắn đại bác vào chiến khu Bạch Mã của ta. Do vậy mà cây Cầy này trúng đạn.
- Nhưng sao lâu nay nó không hú, mà bây giờ mới hú?
- Vì ngay trước lỗ thủng có nhánh cây to xum xuê che lại. Có lẽ vào đêm mưa gió đó, nhánh cây này bị gãy không che được lỗ thủng. Này em xem, nhánh cây bị gãy vẫn chưa rời ra, còn treo tòn ten kia kìa.
- Nhưng sao mỗi lúc mưa giông, sét lại cứ nhè cây Cầy này mà đánh?
- Đó chính là lý do anh suy luận là cây Cầy này bị trúng đạn đó.
Nói xong anh bứt dây rừng nịt tròn ngang lưng và thân cây, rồi leo tít lên ngọn. Anh ném một miếng sắt to bằng bàn tay và nói vọng xuống:
- Mảnh đạn pháo này còn ghim trên ngọn cây. Có sắt thép là sét đánh vào. Ma cỏ cái gì.
Chờ anh tụt xuống, lần này tôi khâm phục ra mặt:
- Sao anh biết, tài vậy?
- Tài gì, hồi đi đánh Mỹ, trên rừng Trường Sơn anh có gặp chuyện tương tự như vậy rồi.
- Vậy làm sao cho nó hết hú hả anh?
- Anh em mình cùng chặt nhiều đoạn cây chèn vào cái lỗ ấy, không cho gió lồng vô.
- Sao anh không nói rõ cho dân làng biết, rồi cùng lên đốn quách nó đi?
- Thế em không thấy ông tập đoàn trưởng vừa mới giơ rìu lên chặt cây đã ngã ngữa ra sùi bọt mép à?
Tôi hỏi lại anh:
- Thế anh cũng tin là ma bắt ông tập đoàn trưởng à?
- Cái này thì anh chịu! Sét đánh hay tiếng hú không phải là ma. Nhưng thấy việc ông tập đoàn trưởng rồi, giờ bảo anh chặt, anh cũng không dám.
Rồi anh Mùa trầm ngâm:
Hơn nữa, anh sẽ về nói anh là pháp trấn ếm cây Cầy Ma thôi không hú nữa. Và nói thêm  đất đây  là đất thiêng nên núi có tên Ông, sông có tên Bụt. Bụt trấn được yêu ma. Nếu muốn ma trên cây Cầy không hú trở lại, thì chớ phá rừng ở hòn núi Ông làm khô dòng suối Bụt.

Lê Đình Danh (Quy Nhơn)


Share on Google Plus

About Unknown

This is a short description in the author block about the author. You edit it by entering text in the "Biographical Info" field in the user admin panel.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét