CHƠI CHỮ - Truyện ngắn Lê Đình Danh




 Những người quen biết anh, thường cười và kháo nhau khi vắng mặt anh, rằng anh là người “chơi chữ”. Họ bàn luận với nhau, đấy thật là điều không cần thiết. Cuộc sống còn biết bao nhiêu điều phải làm; lo cái ăn cái mặc, khi ốm khi đau đã đành; còn việc học kèm cho con nữa chứ! Nếu không đầu tư cho con ăn học, làm sao lớn lên nó tranh đua kiếm sống được với đời. Họ biết chính xác rằng anh không có tiền để cho con học thêm. Vậy mà anh không cố làm thêm để kiếm tiền trang trải cho bao nhiêu việc ấy, lại rảnh rỗi “chơi chữ”. Họ chỉ bàn tán và cười… Không phải cười chế nhạo hay cười đồng tình. Đơn giản vì thấy lạ và vui nên cười. Những nụ cười rồi cũng gián tiếp đến tai anh. Anh cũng cười, vì việc nó đã như vậy rồi, không biết làm sao hơn nữa. Dù sao, anh cũng đã mang tiếng là “chơi chữ”. Thật sự anh đâu có muốn mang cái tiếng ấy vào mình. Cái tiếng không ai khen cũng không ai chê, nhưng ai cũng xem anh như một người lập dị. Hơn ai hết, anh biết rất rõ rằng anh không hề lập dị. Đó là một sự tình cờ bắt đầu từ một việc vô cùng bức thiết.
   Dù tất bật kiếm tiền để mưu sinh là một nghề khác, nhưng anh yêu thích văn học. Do vậy, nên anh quan tâm đến việc học văn của con mình. Thi học kỳ một năm lớp 4, con anh mang về bốn bài mẫu tập làm văn. Mỗi bài mẫu là một đề văn khác nhau. Nó đi quanh quẩn khắp phòng và cố học thuộc lòng hết các bài văn mẫu ấy. Anh hỏi:
- Vì sao con phải học thuộc lòng?
- Khi thi học kỳ nhà trường sẽ ra một trong bốn đề này. Chúng con chỉ cần học thuộc lòng là làm bài được liền à!
- Vậy là cả lớp đều có bài văn giống nhau sao con?
Con anh vui vẻ:
- Dạ! Đâu có sao đâu ba! Rồi đứa nào cũng được điểm cao, hơn chín mươi phần trăm là học sinh giỏi.
Anh hoảng hốt:
- Trời ơi! Ngày trước còn nhỏ ba học tiểu học, chỉ có hai đứa làm văn giống nhau là đã bị điểm không rồi, con có biết không? Cả lớp giống nhau gọi là “ăn cắp văn” chứ không phải “tập làm văn”, con có biết không?
- Con không biết, trước giờ vẫn vậy mà ba!

 Thi học kỳ một năm ấy, anh đành phải làm ngơ cho con mình “ăn cắp văn” để được là học sinh giỏi. Sau đó, anh lập tức lên phương án tự dạy cho con mình tập làm văn. Anh không muốn con mình xem chuyện “ăn cắp” văn là chuyện bình thường.
Nhà anh chỉ có ba mươi mét vuông tầng trệt. Một nửa sau là vệ sinh và bếp; nửa trước vừa là phòng khách, vừa là phòng ăn, nay lại thêm phòng học. Anh đành phải sơn đen lên mảng tường ở phòng trước để làm bảng dạy con học văn.
Anh mang tiếng “chơi chữ” từ cái bảng đen đó và bắt đầu từ tết năm Nhâm Thìn. Dọn dẹp trang trí lại nhà cửa để vui xuân đón tết, nhưng cái bảng sơn đen trên tường kia không biết làm sao gỡ xuống được. Một mảng đen thui giữa tường thật khó coi! Chẳng lẽ sơn lại cho tịêp màu tường? Rồi chỉ sau có vỏn vẹn ba ngày tết, phải mua sơn đen về quét lại cái bảng đen? Chẳng lẽ phải sơn đi sơn lại? Chẳng lẽ để cái bảng đen trơ trụi giữa tường trong phòng khách? Anh phân vân bối rối. Trong cái khó nó ló cái khôn. Bỗng nhiên anh nảy ra một ý tưởng làm cho tấm bảng khỏi trở thành vô duyên. Anh lấy viên phấn trắng nắn nót viết lên tấm bảng đen. Anh cố viết thật đẹp. Đó là một cách trang trí tốt nhất cho cái bảng đen này. Anh viết theo chiều dọc, như cách viết câu đối:
Chẳng lẽ bảng đen trơ một tấm
Thôi thì phấn trắng đối đôi câu.
Anh mỉm cười sung sướng. Khỏi mất công che giấu tấm bảng mà còn được một câu đối thú vịnữa. Với anh là như thế.
Tấm bảng đen ở vị trí đối diện với bộ bàn ghế kê bên kia tường. Nó đập vào mắt những người khách đến thăm tết nhà anh. Họ hỏi:
- Tết đến, người ta sắm sửa bia bọt, chơi hồng chơi cúc chơi mai; còn anh chỉ chơi chữ thôi
-Vì chỗ ấy không thể gỡ đi đâu được, chẳng lẽ để bảng đen… trơ ra một tấm…
 Sau ba ngày tết, anh xóa câu đối ấy đi và mỗi đêm gắng dạy cho con mình biết làm văn. Năm sau, thi học kỳ một lớp năm, trường con anh đổi mới cách dạy, không cho học trước những bài văn mẫu nữa. Bạn học cùng lớp với nó lên mạng hoặc xem trong các sách bài văn mẫu rồi cố học thuộc cho bằng hết các bài văn có thể gặp trong khi thi. Con anh áp dụng phương pháp để làm một bài văn và trong khi viết phải đưa được cái hồn của mình vào bài văn ấy. Kết quả bài thi tả cây mai trong dịp tết của nó được điểm cao cùng với lời phê “tư duy độc lập”. Anh mỉm cười:
- Thời ba còn nhỏ, không có ai lại phê là “tư duy độc lập”. Bởi đó là điều tất nhiên của một người viết văn. Do thời buổi này người ta chấp nhận cho nhiều bài văn giống y chang nhau. Giáo viên cũng biết thế là không đúng, nhưng không chấp nhận như thế thì lấy đâu ra thành tích hả con! Thầy giáo phê con “tư duy độc lập” là khen con đó. Con hãy nhớ, dù ít điểm hoặc không có thành tích cũng phải viết theo ý của mình, nghe con. Con viết bài văn tả cây mai hay đấy. Thi học kỳ một xong là đến tết, tết này ba mua thưởng cho con chậu mai trưng trong nhà. Con có vui không?
Con anh vui vẻ:
- Dạ có!
Tết năm Quý Tỵ, dù cố gắng thế nào anh cũng chỉ mua được một cây mai nhỏ nhất. Tuy nhỏ, nhưng hoa nở đều đúng tết và cánh hoa vàng tươi rất đẹp. Chỉ có cái chậu đúc bằng xi-măng trông xù xì xấu xí. Tiếng là thưởng cho con, nhưng tự anh cũng rất thích hoa mai. Trang trí cho cái chậu, anh dùng phấn viết một câu đối quanh viền chậu:
Dẫu có thờ ơ ngơ ngày tết
Hãy còn ngoái lại bái mai hoa.
Người quen đến thăm tết, đọc xong hỏi anh:
- Hai câu này nghĩa là sao?
- Đấy thuần túy là tiếng Việt. Bạn hỏi tôi, tôi biết hỏi ai!
Một người bạn khác ngẫm nghĩ rồi gật gù:
- “Ngoái lại bái” đối với “thờ ơ ngơ”… bạn thật là biết chơi chữ…
- Một cách chơi không phải tốn tiền, lại có đề tài nói vui trong ngày tết, cũng là nên chứ.
Người quen lúc nãy đã hỏi “nghĩa là sao” nói lãng sang chuyện khác:
- Năm ngoái là năm Thìn thì bạn để cái bảng đen trơ một tấm, còn nay là năm Tỵ lại treo tranh con rồng che kín tấm bảng ấy. Là thế nào?
Anh lại cười:
- Vì chẳng lẽ để bảng đen trơ một tấm, nên mua bức tranh treo lên. Nhưng người ta chỉ bán tranh rồng, không ai bán tranh rắn, dù năm nay là năm Tỵ.

***

 Đến tết năm Giáp Ngọ này, anh mua bức tranh mã đáo thành công treo lên để che tấm bảng đen. Hoa mai năm ngoái anh đã thay lại chậu mới. Không còn chỗ và không còn lý do để đề câu đối. Vả lại, trong thời buổi mà những người thành đạt trong xã hội thường bảo nhau: “Học văn mà làm được cái gì"; thì anh chẳng ngu dại gì phải mang tiếng “chơi chữ” vào mình.
Con anh hỏi:
- Sao tết này ba không đề câu đối hở ba? Cái bảng đen kia là ba dùng dạy văn cho con. Ba thường nói là không phải cứ đến trường cắm đầu vào sách vở là học được văn, mà hằng ngày phải quan sát mọi sự vật rồi diễn tả bằng ngôn ngữ của mình, rồi phải có hồn nữa, phải không ba? Thế mới nên người, phải không ba? Ba thường nói văn là người nên không được ăn cắp văn, phải không ba? Thôi, ba treo tranh ngựa lên tường bên kia và viết câu đối vào bảng đen cho con đọc, nghen ba.

 Ai bảo mình lập dị chơi chữ thì thôi kệ họ. Anh lại lấy phấn trắng viết nắn nót vào tấm bảng đen:
Ngày tết, chẳng ngại còn câu đối
Con mình, bởi sợ mất nhân văn.

Lê Đình Danh (Quy Nhơn)
Share on Google Plus

About Unknown

This is a short description in the author block about the author. You edit it by entering text in the "Biographical Info" field in the user admin panel.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

1 nhận xét:

  1. Chào nhà văn ! Lâu quá, bận bịu cũng có mà lười cũng có, nên ít ghé trang HQN. bữa nay tìm đọc chuyện của LĐD, chị muốn khóc vì thấy tâm sự của một người cha trước thực tế học văn của con em ! May mà thời mình còn là gv, không chấp nhận chuyện học theo bài mẫu, viết theo mẫu. Nghĩa là đâu đó trong tư duy, chị em mình cũng gặp nhau khi trân trọng lối học văn "tư duy độc lập ".
    Chuyện của nhà văn ngắn mà khiến mình phải suy ngẫm nhiều. Cảm ơn LĐD nhé. Chúc nhà văn khỏe, thành công cả trên đường mưu sinh lẫn "chơi chữ".

    Trả lờiXóa