ĐỒ BÀN IN BÓNG HUYỀN TRÂN - Biên khảo Chính Đức


                                                                       

        Theo một số sử sách đã chép và tôi vừa đọc bài Tìm dấu vết Huyền Trân   của Phanxipăng, trong tạp chí Kiến thức Ngày nay trong số mới ra, dẫn chứng: Vào năm Mậu Tý- 1288, tại xã Thái Đường, hương Đa Cương, huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng ( nay thuộc làng Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) Trần Huyền Trân- công chúa duy nhất của vua Trần Nhân Tông và hoàng hậu Khâm Từ chào đời. Khi mới lên sáu tuổi, ấy là năm Quý Tỵ- 1293, chẳng may Huyền Trân  mất mẹ, được người dì ruột là hoàng hậu Tuyên Từ chăm sóc. Chị em Khăm Từ và Tuyên Từ đều là ái nữ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Cũng năm hoàng hậu Khâm Từ mất, vua Trần Nhân Tông thoái vị, giao thái tử Trần Thuyên- anh ruột Trần Huyền Trân nối ngôi, tức vua Trần Anh Tông. Từ ấy Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông chuyên lo tu hành, sáng lập thiền phái Trúc Lâm, được tôn vinh là Phật Hoàng.

          Năm Tân Sửu- 1301, trong chuyến kinh lý, viếng thăm vương triều Chăm Pa ở thành Đồ Bàn của Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông(lúc ấy đã nhường ngôi cho Trần Anh Tông) kéo dài gần chín tháng, được vua Chế Mân, tức Jaya Sinhavarman III tiếp đãi nồng hậu. Trước lúc chia tay , Trần Nhân Tông có hứa gả con gái cưng là Huyền Trân công chúa cho Chế Mân, mặc dù Chế Mân đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi( người Java, nay thuộc Indonesia). Khi ấy Huyền Trân mới 14 tuổi, nên phải đợi nàng đến tuổi trưởng thành mới làm lễ vấn danh.

          Thời thiếu nữ, công chúa Huyền Trân sống trong Hoàng thành Thăng Long, được cưng chiều và dạy dỗ đặc biệt, vừa thấm nhuần văn hóa của dân tộc Việt, vừa tiếp cận văn hóa Chăm. Sự kiện hệ trọng đối với công chúa Huyền Trân và cả vương quốc Đại Việt, theo  Đại Việt sử ký toàn thư :  Tháng 2, năm Ất Tỵ- 1305, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ cầu hôn. Các quan trong triều cho là không nên, duy có Vương túc Vương Đạo Tái chủ trương bàn việc đó và Trần Khắc Chung tán thành, việc bàn mới quyết. Cũng theo bộ chính sử này, năm sau- Bính Ngọ(1306): Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành Chế Mân. Quà sính lễ của vua Chế Mân dâng lên vương triều Đại Việt, có vật dẫn cưới vô cùng giá trị, đó là: hai châu Ô, Ri (Rí/Lý) một phần lãnh thổ của Chiêm Thành. Đến năm 1307, triều Trần chuyển thành châu Thuận và châu Hóa.

          Công chúa Huyền Trân lên đường vu quy bằng đường bộ sang Chiêm quốc, Trần Khắc Chung được triều đình vương Trần tin giao đưa tiễn. Kinh đô Đồ Bàn hân hoan đón tiếp giai nhân Đại Việt và long trọng tổ chức hôn lễ,  Huyền Trân trở thành hoàng hậu Paramecvari. Thật là nghiệt ngã, éo le  thay cho kiếp má đào cành vàng lá ngọc của một công chúa diễm kiều: Chưa tròn một năm sau lễ cưới, tháng 5 năm Đinh Mùi (1307), vua Chế Mân đột tử. Hai tháng sau, Huyền Trân sinh hoàng tử Dayada, phiên âm là Chế Đa Da. Theo phong tục Chiêm Thành, khi vua chết thì hoàng hậu cũng phải hỏa táng để chết theo.

          Xung quanh việc này có nhiều tình tiết về thời gian và sự kiện cần kiếm chứng thêm từ các nguồn sử liệu. Theo Đại Việt sử ký toàn thư  thì: Mùa đông , tháng 10 năm đó (sau khi Chế Mân băng hà ba tháng ?), triều đình Đại Việt sai Nhập nội hành khiển Thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung, An phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa Huyền Trân và thái tử Đa Da về. Vua biết tục lệ của Chiêm Thành, sợ Huyền Trân bị hại nên sai nhóm Khắc Chung, mượn cớ sang viếng tang Chế Mân và nói với người Chiêm rằng : Nếu công chúa bị hỏa thêu thì việc làm chay không người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào giàn thêu. Người Chăm nghe theo, Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa , loanh quanh trên biển  nhiều ngày ...Và, còn nhiều tình tiết nữa, chẳng hạn khi bập bềnh trên sóng biển Đông vùng ngoài đèo Hải Vân, gặp mưa bão hải đoàn phải cập vào  đảo nhỏ, từ ấy đảo nọ mang tên Huyền Trân . Sau này Ngô Thì Nhậm cảm xúc: “ Huyền Trân sái vận u sầu lệ, Hóa tác xuân mai dạ vũ thanh...”(trong bài thơ Đêm mưa trên đảo Huyền Trân), theo Vũ Đình Liên dịch: “Nước mắt Huyền Trân khóc phận mình/ Đêm xuân, mai đọng lệ trên cành”

          Sau mười tháng tháng lênh đênh hải hành, ngày mùng 10, tháng 8, năm Mậu Thân (1308), công chúa Huyền Trân về đến kinh đô Thăng Long. Ngày 13, tháng 11 năm ấy, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông viên tịch trong am Ngoại Vân trên núi Yên Tử. Thực hiện di huấn của phụ vương, Tết Nguyên đán Kỷ Dậu- 1309, Huyền Trân đến  trấn Kinh Bắc, vào chùa Vũ Ninh trên núi Trâu xuống tóc, khoác áo nâu sồng, mang pháp danh Thích Nữ Hương Tràng. Như vậy, cuộc đời mĩ nữ công chúa Huyền Trân đã rẽ vào cõi từ bi, xuất gia thọ Bồ Tát...Và, theo tương truyền, nữ tu sĩ Hương Tràng đã nương cửa Phật ở nhiều linh tự, đến năm Tân Hợi-1311, trù trì chùa phía đông núi Hổ( Vụ Bản- Nam Định), bà và một vị sư nữ nữa an tịch tại đây cùng một ngày, vào năm Canh Thìn- 1340. Ngày mùng 9, tháng giêng, tại đền thờ công chúa Huyền Trân ở phường An Tây, thành phố Huế, tổ chức lễ hội kỷ niệm ngày công chúa ly trần. Ở Bình Định chưa có đền thờ bà, nhưng phường Đập Đá- thị xã An Nhơn và thành phố Quy Nhơn đã có tên đường Huyền Trân Công Chúa .

          Hơn 700 năm trước, người phụ nữ đầu tiên của nước Đại Việt là  một công chúa triều Trần đến thành Đồ Bàn trên đất An Nhơn- Bình Định, ghi dấu ấn tình sử Việt- Chăm mà các nhà sử gia gọi là cuộc hôn nhân chính trị, sự kiện đã đi vào lịch sử trên bảy thế kỷ. Mặc dù hình bóng Huyền Trân in dấu trên xứ sở này ngắn ngủi, nhưng văn hóa Đại Việt đã theo kiệu hoa của mỹ nữ vào cung đình Chămpa, mở ra nhiều sự kiện quan trọng  mà sử sách đã lưu truyền./.

Xuân Nhâm Thìn- 2012.
Chính Đức


           

Share on Google Plus

About Unknown

This is a short description in the author block about the author. You edit it by entering text in the "Biographical Info" field in the user admin panel.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

2 nhận xét:

  1. Hay lắm...với dòng lịch sử quê nhà:Thành Đồ bàn, Công Chúa Huyền Trân, Vua Trần Nhân Tông (Phật Hoàng)và Chế Mẫn hay Chế Bồng Nga(Vua Chiêm)....Có đôi khi một chút khoảnh khắc ấy nơi Đò Bàn xưa trê mảnh đất Bình Định mấy ai hay biết nhiều...kể cả con dân Bình Định. Cảm ơn anh DUYÊN nhiều và tác giả Chính Đức đã đưa bài này lên!

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cảm ơn Thuận đã đọc và động viên! Chúc vui nhé!

      Xóa